Sơn móng là một trong những xu hướng nổi bật những năm gần đây và trở thành thói quen làm đẹp không thể thiếu của phái nữ. Tuy nhiên, chính việc này có thể gây ra những tác hại khó lường tới sức khỏe.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sơn móng tay khác nhau. Trong thành phần của sơn móng tay có hàng chục hóa chất. Theo các kết quả khảo sát của Cơ quan kiểm duyệt Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, có hơn 80% các loại sơn móng tay có chứa hóa chất độc hại, trong đó có 3 loại hóa chất chính thường được tìm thấy là formaldehyde, toluene và dibutyl phthalate (DBP). Formadehyde là chất bảo quản được dùng trong các loại mỹ phẩm rẻ tiền. Trong sơn móng tay, formaldehyde còn có một tác dụng khác là làm cứng móng nhưng cũng khiến móng tay bị giòn và dễ gãy hơn, nếu dùng nhiều thì sẽ bị vàng ố hoặc thâm móng tay. Formaldehyde thuộc nhóm các chất có khả năng gây ung thư. Toluene là chất lỏng không màu, đóng vai trò dung môi trong sơn móng tay. Đây là một chất có thể gây ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương và gây tác hại đến khả năng sinh sản, thai nhi. DBP là chất làm mềm, giúp cho sơn móng tay có độ dẻo và khả năng kết dính để giữ bền màu trên móng. DBP có khả năng gây ung thư trên động vật thí nghiệm, khi tiếp xúc nhiều DBP có thể gây ra các rối loạn chuyển hóa, thiểu năng tuyến sinh dục ở bé trai sơ sinh và ảnh hưởng lâu dài đến khả năng sinh sản (làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...) của các em khi đến tuổi trưởng thành. Ngoài ra, trong nhiều loại sơn móng tay còn có triphenyl phosphate (TPHP), methylmetacrylate (MMA) cũng là những hợp chất hữu cơ độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng.

            Một vấn đề khác là mỗi lần sơn móng người ta đều phải sử dụng một số hóa chất để tẩy bỏ lớp sơn cũ trước khi sơn lớp mới. Các chất này có thể bao gồm các thành phần độc hại như acetone, benzene, toluene, ethyl acetate, propyl acetate, denatonium benzoate, propylene carbonate, formaldehyde... Các nguy cơ mà chất tẩy sơn móng có thể gây ra là: ảnh hưởng đến hệ thần kinh và hệ miễn dịch; tổn thương gan và đường tiêu hóa; tổn thương da, ngấm qua móng tay vào máu. Thời gian và lượng tiếp xúc càng nhiều thì khả năng sức khoẻ bị ảnh hưởng càng lớn. Những người thường xuyên sơn móng tay và thợ làm móng là hai đối tượng có nguy cơ cao nhất.

Một số người vẫn cho rằng móng tay, móng chân là chất sừng, cứng và dày hơn da rất nhiều nên có thể sử dụng hóa chất trên đó mà không gặp nguy hiểm gì. Trên thực tế, móng có khả năng thấm hút rất tốt nên các chất bôi lên móng hoàn toàn có thể dễ dàng ngấm vào máu. Mặc dù các nhà sản xuất sơn móng tay luôn khẳng định rằng hàm lượng các chất độc hại trong sản phẩm của mình đều ở mức an toàn, nhưng thực tế rất khó kiểm soát vấn đề này vì nhiều hãng không ghi thành phần trên nhãn mác, hoặc nếu có thì cũng không cho biết tỉ lệ từng thành phần. Do lệnh cấm của các cơ quan chức năng và sức ép từ các tổ chức môi trường, một số công ty mỹ phẩm lớn đã ngừng sử dụng DBP, formaldehyde và một số hóa chất độc hại khác. Tuy nhiên, vẫn còn vô số các cơ sở sản xuất nhỏ đặc biệt là ở các nước đang phát triển tiếp tục dùng các chất này mà không đếm xỉa gì đến sức khoẻ người tiêu dùng. Do đó, nếu muốn sơn móng tay, tốt nhất bạn nên chọn sản phẩm có ghi rõ ""không chứa DBP, formaldehyde, toluene..."" của các hãng lớn, có uy tín, không nên chọn sản phẩm sơn nhanh khô, có mùi đậm và độ nhớt cao, không dùng acetone làm chất tẩy sơn. Khi sơn hoặc tẩy sơn móng, nên làm ở chỗ rộng rãi, thoáng gió để hạn chế việc hít phải các hợp chất hữu cơ bay hơi. Không nên sơn móng thường xuyên hoặc thay đổi màu sơn liên tục để giảm bớt thời gian tiếp xúc với hóa chất độc hại, đặc biệt hầu hết các chuyên gia về sức khoẻ đều khuyên các bà mẹ mang thai không nên sơn móng chân, móng tay.

Độc giả có thể xem thêm thông tin tại:

http://vtc14.org.vn/hiem-hoa-quanh-ta/nguy-co-doc-hai-tu-son-mong-tay--chan-t63781.html

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               PGS.TS. Lê Đức Giang